1. Giới thiệu chung về bệnh tay chân miệng
bệnh tay chân miệng là bệnh truyền nhiễm được lây từ người sang người dẫn đến dịch tay chân miệng do virus đường ruột gây ra. Biểu hiện đặc trưng của bệnh đó là khiến vùng da bị tổn thương, vùng niêm mạc tồn tại dưới dạng phỏng nước tập trung chủ yếu tại miệng, lòng bàn tay, bàn chân.
Đường lây nhiễm chính của tay chân miệng qua hệ tiêu hóa từ tuyến nước bọt hay phân của trẻ nhiễm bệnh. Vì vậy, những nơi có nguy cơ lây nhiễm cao và phát triển thành ổ dịch như là mẫu giáo, nhà trẻ,...
2. Nguyên nhân và con đường lây nhiễm bệnh tay chân miệng
Nguyên nhân chính gây ra bệnh tay chân miệng là do virus thuộc họ virus đường ruột, điển hình là hai nhóm tác nhân Coxsackie A16 và Enterovirus 71 (EV71). Đây được coi là virus có sức sống mãnh liệt và dai dẳng, sống được trong khoảng nhiệt rất rộng (từ rất lạnh đến rất nóng).
Virus có thể bị tiêu diệt ở nhiệt độ 560 độ C sau 30 phút. Với điều kiện nhiệt độ lạnh - 40 độ C, virus sẽ sống được đến 3 tuần ở môi trường bên ngoài. Trong đó, những môi trường sinh hoạt chung thường là nơi tập trung của virus như đồ dùng ăn uống, mặt bàn, đồ chơi chung, ghế,....

Hai tác nhân phổ biến gây ra tay chân miệng
Mặc dù mỗi chủng virus sẽ có những đặc điểm riêng biệt nhưng chúng có điểm chung là lây lan nhanh từ người bệnh sang người lành thông qua các con đường sau:
- Ôm, hôn với người bệnh hoặc tiếp xúc quá gần gũi.
- Hít phải giọt bắn có chứa mầm bệnh trong không khí khi người bị tay chân miệng ho, hắt hơi.
- Tiếp xúc với dịch tiết, phân,… của người bệnh hoặc các vật dụng có mang virus như tay nắm cửa sau đó chạm tay lên mặt, mắt, mũi, miệng,… mà chưa rửa và sát trùng tay.
Ngoài ra, nếu bạn vô tình nuốt phải nước trong bể bơi có mang virus thì cũng có thể nhiễm bệnh. Tuy nhiên, nguyên nhân này không quá phổ biến và thường là do chủ hồ bơi không xử lý nước đúng cách theo quy định dẫn đến nguồn nước bị nhiễm virus.
3. Dấu hiệu nhận biết
Cha mẹ cần chú ý, quan sát những dấu hiệu của trẻ để sớm phát hiện ra bệnh tay chân miệng. Từ đó, việc chữa trị cho bé trở nên nhẹ nhàng và phòng trừ được các biến chứng nguy hiểm xảy ra. Xét về chẩn đoán lâm sàng, dấu hiệu của bệnh được chia thành 4 giai đoạn đặc trưng như sau:
3.1. Giai đoạn ủ bệnh
Trong giai đoạn ủ bệnh, trẻ không có nhiều biểu hiện về bệnh, bé vẫn sinh hoạt một cách bình thường. Thời gian của giai đoạn này kéo dài từ 3 đến 7 ngày.
3.2. Giai đoạn khởi phát của bệnh tay chân miệng
Giai đoạn khởi phát diễn ra trong vòng 1 đến 2 ngày với biểu hiện cụ thể của trẻ bao gồm:
- Đau đầu, mất ngủ.
- Người bệnh sốt nhẹ, mệt mỏi, chán ăn, ăn không ngon.
- Trẻ nhỏ thường xuyên quấy khóc.
3.3. Giai đoạn toàn phát
Toàn phát là giai đoạn mà những triệu chứng của bệnh tay chân miệng ở trẻ trở nên rõ ràng hơn. Điển hình là những biểu hiện:
- Viêm loét miệng là dấu hiệu thường thấy của trẻ bị tay chân miệng. Loét miệng được phát hiện nhiều nhất tại hầu họng (gần lưỡi gà), niêm mạc vùng má, môi, lưỡi. Số lượng bắt đầu từ 1 đến vài vết loét trong miệng, kích cỡ từ 2 - 3 mm. Viêm loét miệng làm cho trẻ khó ăn, bỏ ăn, bỏ bú và tăng tiết nước bọt;
- Sốt: Đa số trẻ chỉ bị sốt nhẹ trong nhiệt độ từ 37,5 đến 38 độ C. Trường hợp trẻ sốt cao đến 39 - 40 độ C trong vòng 2 ngày trở lên, cha mẹ cần đưa con đến bệnh viện để điều trị. Vì đây có thể là biểu hiện của biến chứng nghiêm trọng;
- Phát ban trên da dưới dạng phỏng nước ở lòng bàn tay, bàn chân, đầu gối, khuỷu tay và mông. Ban thường tồn tại trong một khoảng thời gian khá ngắn (khoảng dưới 7 ngày). Sau đó những vết phỏng có thể để lại thâm, không để sẹo và hiếm khi bị loét hoặc bội nhiễm.

Tay trẻ xuất hiện các nốt phỏng nước - Một trong những triệu chứng điển hình của bệnh tay chân miệng
3.4. Giai đoạn hồi phục
Sau khi khỏi phát bệnh từ 7 - 10 ngày, những triệu chứng của tay chân miệng sẽ giảm dần. Những vùng da, niêm mạc bị tổn thương dần khô lại, bong tróc và hình thành lớp da non. Lúc này, bệnh nhân sẽ cảm thấy ngứa nhiều. Tuy nhiên, không được cào, gãi ở những khu vực này để tránh gây tổn thương khiến quá trình phục hồi của da diễn ra lâu hơn hoặc nhiễm trùng.
Đối với những bệnh nhân có sức khỏe tốt, triệu chứng tay chân miệng thường chỉ xuất hiện một vài nốt hồng ban hoặc mụn nước,… và nhanh chóng biến mất sau vài ngày khởi phát. Tuy nhiên, những trường hợp bệnh chuyển biến nặng hoặc không được can thiệp điều trị đúng cách có thể dẫn đến biến chứng như viêm màng não, viêm não, gây sốt cao, cứng cổ, chóng mặt, mê sảng, co giật,… Một số còn rơi vào tình trạng bại liệt hoặc bội nhiễm ở các nốt mụn nước nếu vấn đề vệ sinh không đảm bảo.
4. Biến chứng
Qua đó, cha mẹ nhận biết sớm được dấu hiệu của bệnh tay chân miệng ở trẻ sẽ có cách điều trị, chăm sóc tốt nhất. Từ đó, hạn chế được những biến chứng nguy hiểm do virus EV71 gây ra, có thể kể đến như:
- Biến chứng về não bộ: Dẫn đến một trong những bệnh viêm màng não, viêm não, viêm não tủy. Đồng thời kèm theo những biểu hiện như hay giật mình, đi không vững, mắt nhìn ngược, nhãn cầu bị rung hoặc giật,...
- Biến chứng về hệ hô hấp, tim mạch: Bệnh viêm cơ tim, tăng huyết áp, suy tim, trụy mạch có thể dẫn tới tử vong nếu không được phát hiện, xử lý nhanh chóng.
- Suy đa phủ tạng: phù phổi cấp, suy tim, đây cũng là một biến chứng vô cùng nguy hiểm.
- Trẻ bị mất nước: Do trẻ bị loét miệng, xuất hiện các lớp phòng nước, khiến trẻ đau và không muốn ăn uống dẫn đến thiếu nước. Dấu hiệu của biến chứng này là: trẻ quấy khóc, mệt mỏi, sốt cao liên tục, chân tay lạnh, nước tiểu có màu vàng đậm,…
- Nhiễm trùng: Trong trường hợp nếu người bệnh không được chăm sóc cẩn thận, đúng cách sẽ bị loét các vết phồng nước. Nếu nốt mụn bị vỡ, chảy dịch, chảy mủ, da sưng tấy thì cần được đưa ngay đến bệnh viện để kiểm tra và điều trị theo hướng dẫn của bác sĩ để giảm nguy cơ nhiễm trùng

Biến chứng suy hô hấp là một trong những biến chứng nguy hiểm nhất khi trẻ mắc tay chân miệng
5. Phương pháp chẩn đoán bệnh tay chân miệng
Việc chẩn đoán bệnh tay chân miệng được thực hiện qua nhiều phương pháp khác nhau. Các bác sĩ có thể phát hiện bệnh thông qua việc khám lâm sàng, quan sát các triệu chứng cụ thể của bệnh, kết hợp với xét nghiệm.
Bác sĩ sẽ lấy bệnh phẩm từ: dịch ngoáy họng, dịch từ các nốt phồng, nốt loét hay dịch não tủy. Mẫu bệnh phẩm sau khi thu được sẽ được tiến hành phân lập virus và làm các xét nghiệm sinh học phân tử. Hoặc có thể mẫu bệnh phẩm là máu và được dùng để làm phản ứng huyết thanh xác định hiệu giá kháng thể đặc hiệu.
6. Biện pháp phòng ngừa
Khi đang ở trong vùng dịch tay chân miệng, cách tốt nhất để giảm thiểu lây nhiễm của bệnh là cần chủ động phòng ngừa bằng những biện pháp:
- Hạn chế tiếp xúc với người bệnh tay chân miệng nếu không thực sự cần thiết
- Trẻ bị mắc bệnh cần được cách ly tại nhà để tránh việc lây lan;
- Theo dõi, quan sát trẻ bị sốt trong vùng dịch bệnh, cần thiết nên đưa trẻ đi cách ly;
- Vệ sinh nơi ở của người bệnh bằng cách lau phòng, khử khuẩn toàn bộ giường bệnh, phòng bệnh bằng Cloramin B 2%;
- Xử lý những chất thải, quần áo, khăn trải giường của người bệnh và những dụng cụ chăm sóc được sử dụng lại theo quy trình của phòng bệnh lây qua đường tiêu hóa;
- Người nhà và nhân viên y tế cần rửa tay kháng khuẩn sau khi thay quần áo, tã hoặc tiếp xúc với phân, nước bọt,... của người bệnh.

Thiếp lập thói quen rửa tay sạch sẽ để phòng tránh lây lan
7. Phương pháp điều trị
Vì nguyên nhân gây bệnh tay chân miệng là do virus nên thuốc kháng sinh không được khuyên dùng trong trường hợp này. Ngoài ra, tính đến nay vẫn chưa có thuốc đặc hiệu điều trị tay chân miệng nên thường sẽ tập trung vào cải thiện triệu chứng của bệnh:
- Giảm đau, hạ sốt: 2 loại thuốc giảm đau hạ sốt thường được bác sĩ chỉ định trong điều trị tay chân miệng cho trẻ em đó là Ibuprofen và Paracetamol. Đồng thời tuyệt đối không sử dụng aspirin để giảm đau hạ sốt cho trẻ vì thuốc sẽ gây ra biến chứng vô cùng nguy hiểm đó là hội chứng Reye có thể dẫn tới tử vong ở trẻ.
- Khi trẻ sốt cao từ 38,5 độ C trở lên thì sẽ được chỉ định dùng hapacol 10mg/kg/lần để hạ sốt, mỗi lần cách nhau 6 tiếng và không uống quá 4 lần/ngày. Trẻ sốt cao sẽ bị mất nước vì thế cha mẹ nên bù đủ nước điện giải cho trẻ.
- Giảm ngứa: dùng thuốc kháng histamin sẽ giúp làm dịu cơn ngứa do bệnh gây ra.
- Dùng thuốc giúp giảm triệu chứng đau ở miệng: một loại thuốc dạng gel là Antacid sẽ được dùng thoa lên vết thương. Thuốc này có tác dụng giảm thiểu triệu chứng đau và giúp trẻ ăn nhai dễ dàng hơn.
- Trẻ cần được bổ sung chế độ dinh dưỡng phù hợp, nên cho trẻ ăn những đồ ăn loãng dễ nhai, nuốt và chia thành nhiều bữa nhỏ trong ngày. Ngoài ra, trẻ có thể dùng thêm tăng đề kháng theo chỉ định của bác sĩ.